Cyprinidae, Ấn Độ
Cá barb vây đen Pethia
Pethia nigripinna
- Nhiệt độ
- 16–21°C
- pH
- 5,5–7,5
- Bể tối thiểu
- 90 cm
- Độ khó
- Vừa
Tên khác: Cá Pethia nigripinnis
- Nhiệt độ
- 16–21°C
- pH
- 5,5–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 2–12
- Kích thước
- 4,5 cm
- Bể tối thiểu
- 90 cm
- Độ khó
- Vừa 5/8
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
- Seriously Fish
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.
Nuôi chung
- Tính cách
- Hiền
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Thông tin nhanh
Pethia nigripinnis là một loài cá chép nhỏ, sống ở những con suối đồi nước mát và có dòng chảy thuộc Kerala và Tamil Nadu. Có vẻ đây là loài đặc hữu của phần phía nam dãy Western Ghats. Cá đực trưởng thành có vây lưng, vây hậu môn, vây bụng và vây ngực màu đen. Loài này cần nước mát hơn mức thường thấy, nên khó hợp với bể cộng đồng thông thường. Nhiều khả năng cá sống tốt nhất khi nuôi riêng, hoặc nuôi chung với những loài cỡ tương đương cần điều kiện nước tương tự.1
Cần bể bao lớn?
Bể cần có đáy tối thiểu 90 × 30 cm hoặc tương đương. Nếu muốn nuôi nhiều hơn một con đực thì bạn cần bể rộng hơn (xem mục 'Tập tính và khả năng sống chung').1
Nước cần thế nào?

Chăm sóc ra sao?
Cá lên màu đẹp nhất dưới ánh sáng mờ. Loài này trông đặc biệt nổi bật trong bể trồng dày cây với nền tối màu. Một lựa chọn khác là set bể mô phỏng sông suối có dòng chảy, nền gồm đá và sỏi đủ cỡ, thêm vài tảng đá lớn đã bị nước mài nhẵn.
Bạn có thể bày thêm cành lũa và các loại cây như Microsorum, Bolbitis hoặc Anubias. Những cây này buộc lên lũa hay đá vẫn sống tốt.
Ngoài tự nhiên cá sống ở nước chảy và cần điều kiện nước ổn định. Vì vậy tuyệt đối không thả loài này vào bể mới set chưa ổn định vi sinh. Thay nước 30-50 % thể tích bể mỗi tuần là việc bắt buộc.1
Cho ăn gì?
Cá ngoài tự nhiên có lẽ là loài đi lùng sục kiếm ăn. Thức ăn của chúng gồm tảo silic, tảo, mùn hữu cơ, côn trùng nhỏ, giun, giáp xác và các loại động vật phù du khác.
Trong bể, cá dễ cho ăn. Muốn cá khỏe và lên màu đẹp nhất thì nên cho ăn đều đặn các loại thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, Bo bo và Artemia. Kèm theo đó là thức ăn khô dạng mảnh và dạng hạt loại tốt, trong đó ít nhất một phần nên có thêm thành phần thực vật hoặc tảo.1
Nuôi chung với con gì?
Cá khá hiền, nhưng ưa nước mát hơn mức thường gặp nên khó là lựa chọn tốt cho bể cộng đồng thông thường.
Nhiều khả năng cá sống tốt nhất khi nuôi riêng, hoặc nuôi chung với những loài cỡ tương đương ưa điều kiện nước tương tự.
Loài này thích sống theo bầy, nhưng chỉ tụ thành đàn lỏng (shoaling) chứ không bơi đồng loạt thành đàn chặt (schooling). Trong không gian chật của bể, cá sẽ tự phân thứ bậc rất rõ. Vì vậy bạn cần bố trí bể sao cho có đủ vật che chắn tầm nhìn, để những con yếu hơn có chỗ lánh đi nghỉ.
Các con đực sẽ gườm nhau và đấu giả qua lại rất thú vị. Khi có đối thủ cùng loài, chúng cũng lên màu đẹp hơn. Tuy vậy, cá đực cần nhiều chỗ, mỗi lãnh thổ rộng khoảng 60 cm².1

Phân biệt đực cái thế nào?
Sinh sản ra sao?
Theo những gì đã biết, loài này chưa từng sinh sản trong bể. Dưới đây là cách cho đẻ áp dụng với các loài họ hàng:
Giống hầu hết các loài cá chép nhỏ, các loài Pethia đẻ trứng rải tự do và không chăm con.
Khi cá khỏe, chúng đẻ thường xuyên. Trong bể đã ổn định lâu, có thể tự nhiên xuất hiện vài con cá bột mà bạn không cần làm gì.
Tuy vậy, muốn thu được nhiều cá bột nhất thì phải làm có kiểm soát hơn.
Bạn vẫn có thể vỗ béo cả đàn bố mẹ chung một bể. Bên cạnh đó cần chuẩn bị thêm một bể nhỏ hơn, đổ nước lấy từ bể đã ổn định.
Bể đẻ nên để ánh sáng thật mờ. Đáy bể phủ một lớp lưới có mắt đủ lớn để trứng lọt xuống, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới. Tấm thảm nhựa dạng 'cỏ' bán khắp nơi cũng dùng được và hiệu quả tốt. Một lớp bi thủy tinh cũng làm được việc tương tự.
Cách khác là trồng kín phần lớn bể bằng cây lá nhỏ như Taxiphyllum, hoặc thả các bó sợi làm giá đẻ (spawning mop). Cách này cũng cho kết quả khá.
Nước nên hơi axit đến trung tính, nhiệt độ để gần mức cao của khoảng đã nêu ở trên. Bể cũng nên có lọc vi sinh chạy bằng sủi khí hoặc một vài viên đá sủi, để cấp oxy và tạo dòng nước.
Khi cá bố mẹ đã được vỗ tốt và con cái bụng căng trứng, bạn thả một hoặc hai cặp vào bể đẻ. Thường cá sẽ đẻ vào sáng hôm sau.
Bạn cũng có thể cho cá đẻ theo nhóm, khoảng sáu con đực và sáu con cái là vừa. Cách này có thể cần bể lớn hơn.
Dù làm theo cách nào, cá bố mẹ có lẽ cũng sẽ ăn trứng nếu có dịp. Vì vậy hãy vớt chúng ra ngay khi thấy có trứng.
Trứng nở sau 24 - 48 giờ. Khoảng 24 giờ sau đó cá bột bắt đầu bơi tự do.
Vài ngày đầu, cho cá bột ăn thức ăn cỡ infusoria (các sinh vật đơn bào li ti). Khi đủ lớn, cá bột ăn được giun vi sinh (microworm), ấu trùng Artemia mới nở hoặc các loại tương tự.1
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Nơi thu mẫu chuẩn của loài là suối Kalindhi, một nhánh của sông Kabini ở huyện Wayanad, bang Kerala, tây nam Ấn Độ. Ngoài ra còn có một quần thể khác ở Kakkan Halla, thuộc hệ thống sông Moyar, vùng đồi Nilgiri, bang Tamil Nadu.
Vì vậy loài này có vẻ là loài đặc hữu của vùng núi phía nam Western Ghats.1

Môi trường tự nhiên
Cá sống ở những con suối đồi nước mát, có dòng chảy. Những đoạn đầu nguồn như vậy thường giàu oxy và nước trong. Nền ở đây gồm sỏi, đá, đá tảng và từng mảng lá mục, còn mọi bề mặt cứng đều phủ một lớp màng sinh học dày.
Môi trường sống nhiều khả năng thay đổi tùy địa điểm và thời điểm trong năm. Mỗi năm có hai mùa gió mùa, khiến nhiều con sông chảy ra từ Western Ghats sâu hơn, chảy mạnh hơn và đục hơn.
Tại một điểm thuộc lưu vực Kalindhi, nước trong và chỗ sâu nhất là 1 m. Nước chảy qua hai bên một con đập chắn nhỏ. Phía dưới đập dòng chảy mạnh hơn, nhưng vẫn không nhanh lắm.
Nền gồm đá và cuội. Phía trên đập có một lớp bùn mịn và cát khá dày.
Ở đây không có cây thủy sinh. Cỏ và cây bụi ven bờ mọc sát tới mép nước, một số rễ ngập nước chìa ra trong lòng suối.
Ở đoạn nước chảy mạnh hơn bên dưới đập, không bắt được con P. nigripinnis nào. Cá đực ở đây chiếm những lãnh thổ nhỏ chứ không tụ lại thành đàn.
Các loài sống cùng khu vực gồm Haludaria fasciata, Pethia conchonius, Puntius bimaculatus, Opsarius gatensis, Danio rerio, Salmostoma acinaces, Mesonoemacheilus guentheri, Mystus montanus, Bhavania australis, Channa gachua, Lepidocephalichthys thermalis và Aplocheilus lineatus.
Điểm thứ hai là một con lạch nhỏ chảy qua rừng rậm. Nước ở đây cũng nông, nền gồm cuội, bùn và lá mục.
Chỗ này cũng không có cây thủy sinh. Dọc bờ có vài đám rễ ngập nước và những tàu lá tre rủ xuống mặt nước. Nước mát hơn không khí vài độ.
Cá đực ở đây cũng bắt được từng con riêng lẻ, mỗi con giữ một lãnh thổ nhỏ giữa đám rễ và lá mục. Cá cái thì đi thành nhóm nhỏ 2-3 con.
Các loài khác bắt được ở đây là Pethia conchonius, Longischistura striata, Channa gachua và Aplocheilus lineatus.1
Ghi chú
Loài này hiện chưa có trên thị trường cá cảnh, nhưng đã có một vài người sưu tầm tư nhân nuôi.
Trước đây loài này nằm trong 'nhóm' Puntius conchonius, gồm các loài có quan hệ gần là P. ater, P. bandula, P. conchonius, P. cumingii, P. didi, P. erythromycter, P. gelius, P. khugae, P. macrogramma, P. manipurensis, P. meingangbii, P. nankyweensis, P. nigrofasciatus, P. padamya, P. phutunio, P. punctatus, P. reval, P. shalynius, P. stoliczkanus, P. thelys, P. tiantian và P. ticto. Pethiyagoda và cs. (2012) đã chuyển toàn bộ các loài này sang chi mới Pethia. P. melanomaculata, P. pookodensis, P. muvattupuzhaensis, P. ornatus và P. yuensis cũng được chuyển theo.
Các loài Pethia được nhận diện qua tổ hợp các đặc điểm sau: không có râu mõm, râu hàm rất nhỏ hoặc không có, tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng cứng và có răng cưa, có một vết đen trên cuống đuôi (thường kèm các vết, đốm hoặc vạch đen ở hai bên thân), xương dưới ổ mắt thứ 3 cao và chồng một phần lên xương trước nắp mang.
P. nigripinnis khác các loài cùng chi ở tổ hợp đặc điểm sau: không có râu, tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng có răng cưa, hàng vảy dọc thân có 20–21 vảy, đường bên không hoàn chỉnh với 3–5 vảy có lỗ, cá đực trưởng thành có vây lưng, vây hậu môn, vây bụng và vây ngực màu đen. Về hoa văn, cá có một đốm đen ở vai nằm trên vảy đường bên thứ 3 hoặc thứ 4, và một vệt lớn hơn ở phía sau trên vảy thứ 18 và 19. Vệt này trông như một dải vòng quanh cuống đuôi. Giữa vệt phía sau và khuyết hypural (hypural notch, chỗ lõm ở gốc vây đuôi) có 2 vảy.
Trong nhiều năm, chi Puntius bị xem là một chi đa ngành (polyphyletic), kiểu thùng chứa chung cho hơn 100 loài cá chép cỡ nhỏ đến trung bình. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Pethiyagoda và cs. (2012) công bố một bản rà soát một phần, bao gồm các loài ở Nam Á.
Phần lớn các loài Puntius ở vùng dưới Himalaya được phân loại lại. Ba chi mới là Dawkinsia, Dravidia và Pethia được lập ra để chứa một số loài. Số còn lại hoặc vẫn ở trong Puntius, hoặc chuyển sang nhóm Systomus vốn đã có. Tuy nhiên, định nghĩa của Systomus cũng bị sửa lại, nên một số loài Đông Nam Á trước đây xếp vào đó nay không còn thuộc chi này nữa.
Sau đó người ta phát hiện tên Dravidia đã được dùng cho một chi ruồi thịt. Vì vậy Pethiyagoda (2013) đưa ra tên thay thế là Haludaria.
Nghiên cứu này không xét đến loài nào ở Đông Dương, Trung Quốc hay Indonesia. Do đó khá nhiều loài trước đây thuộc Puntius hiện được xếp vào nhóm incertae sedis, tức chưa rõ vị trí phân loại. Một số loài Nam Á chưa được xác định tình trạng cũng rơi vào trường hợp này.
Tạm thời, cách gọi hợp lý nhất cho các loài này có lẽ là ‘Puntius‘, với tên chi đặt trong dấu ngoặc kép để cho thấy cách dùng này còn đáng ngờ. Hiện tại quy ước này đang được áp dụng.1
Tài liệu tham khảo
- Kullander, S. O. and F. Fang (2005). Two new species of Puntius from northern Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Copeia 2005(2), 290-302
- Kullander, S. O. and R. Britz (2008). Puntius padamya, a new species of cyprinid fish from Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Electronic Journal of Ichthyology, Bulletin of the European Ichthyology Society 2, 56-66
- Knight, J. D. M., K. Rema Devi, T. J. Indra and M. Arunachalam (2012). A new species of barb Puntius nigripinnis (Teleostei: Cyprinidae) from southern Western Ghats, India. Journal of Threatened Taxa 4(3), 2409-2416
- Shantakumar, M. and W. Vishwanath (2006). Inter-relationships of Puntius Hamilton-Buchanan (Cyprinidae: Cyprininae) found in Manipur, India. Zoos' Print Journal 21(6), 2279-2283
- Pethiyagoda, R., M. Meegaskumbura, and K. Maduwage (2012). A synopsis of the South Asian fishes referred to Puntius (Pisces: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(1), 69-95
- Pethiyagoda, R. (2013). Haludaria, a replacement generic name for Dravidia (Teleostei: Cyprinidae). Zootaxa 3646(2), 1991
Nguồn
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá barb vây đen Pethia? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá barb vây đen Pethia của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 90x30 cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể cá thủy sinh 90 cmShopeeLazadaTiki
- Lọclọc thùng tạo dòng chảyShopeeLazadaTiki
- Lọclọc mút xốp sủi khíShopeeLazadaTiki
- Nền và lásỏi nền bể cáShopeeLazadaTiki
- Nền và láđá cuội trang trí bể cáShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn mảnh cho cá nhỏShopeeLazadaTiki
- Thức ăntrùng huyết đông lạnhShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.