Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Ấn Độ

Cá barb mascara

Dawkinsia assimilis

Tên khác: Cá barb mahecola, Cá barb mascara đỏ, Mascara Barb, Mahecola Barb

Nhiệt độ
19–25°C
pH
6–7
Bể tối thiểu
120 cm
Độ khó
Vừa

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
19–25°C
pH
6–7
Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 12 cm
  • NướcDễpH 6–7, 2–10 dGH
  • Nhiệt độVừanước mát · 19–25°C
  • Tính cáchDễhiền
  • Bầy đànVừađàn từ 8 con

Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-31.

Thông tin nhanh

Cá barb mascara (Dawkinsia assimilis) là một loài cá chép (cyprinid) sống ở các lưu vực sông Netravati, Chalakudy và Kallada thuộc hai bang Karnataka và Kerala, Ấn Độ. Chóp mỗi thùy vây đuôi có một dải đen rộng cỡ đường kính mắt. Ở cá vùng Kallada, dải đen này mờ hoặc không có. Trước đây loài này từng bị nhận nhầm là Puntius mahecola, và đến nay vẫn có tên 'mahecola barb' trong danh sách hàng của các nơi bán cá. Một số quần thể có thể là những loài riêng.1

Cần bể bao lớn?

Muốn nuôi lâu dài thì bể nhỏ nhất cũng nên có đáy 120 × 45 cm (khoảng 243 lít) hoặc tương đương.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 19–25°C
  • pH: 6,0–7,0
  • Độ cứng: 2–10 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Loài này không khó nuôi nếu bể được chăm sóc tốt. Dù vậy, bạn nên set bể theo kiểu một con suối hoặc dòng sông có nước chảy. Nền gồm đá cuội mòn nước nhiều cỡ, cát, sỏi mịn và có thể thêm vài tảng đá nhỏ.

Có thể bày thêm rễ hoặc cành lũa. Phần lớn cây thủy sinh sẽ không lên nổi trong bố cục như vậy. Tuy nhiên, những loại khỏe như Microsorum, Bolbitis hay Anubias vẫn trồng được bằng cách gắn lên lũa, đá.

Ngoài tự nhiên, cá sống ở những nơi nước còn khá nguyên sơ. Vì thế nó chịu kém khi chất bẩn hữu cơ tích tụ trong bể, và cần nước gần như sạch tinh mới khỏe được.

Bể không cần dòng chảy xiết như thác. Nhưng cá khỏe nhất khi nước giàu oxy hòa tan và có dòng chảy vừa phải. Thay 30-50% nước mỗi tuần nên coi là việc làm thường lệ.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, đây là loài ăn tạp, chuyên đi lục lọi kiếm ăn. Thức ăn của nó gồm đủ loại giun, côn trùng, giáp xác, thực vật và các mảnh vụn hữu cơ khác.

Trong bể, cá dễ cho ăn. Dù vậy, muốn cá đạt thể trạng và màu đẹp nhất thì nên cho ăn cân bằng. Thực đơn nên có các bữa đều đặn bằng thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, Daphnia, Artemia, kèm thức ăn khô dạng mảnh và dạng hạt loại tốt.1

Nuôi chung với con gì?

Cá barb mascara rất hợp với bể cộng đồng hiền gồm các loài sống ở sông. Bạn có thể nuôi nó cùng các loài cá chép bơi đàn khác, cùng các loài chạch thuộc họ botiid, cobitid, nemacheilid và balitorid.

Nếu không câu nệ chuyện cùng vùng địa lý, nó nuôi chung được với hầu hết các loài cá hiền. Điều kiện là các loài đó phải đủ lớn để không bị coi là mồi, và đủ bạo dạn để không sợ trước kích thước lẫn tính hiếu động của loài này.

Như mọi lần, tìm hiểu kỹ trước là cách tốt nhất để tránh rắc rối khi chọn cá nuôi chung.

Bản tính loài này là bơi đàn, nên tốt nhất mua 8-10 con. Nuôi đủ đông thì cá bớt nhát hẳn. Bể cũng đẹp hơn và trông tự nhiên hơn.

Ngoài ra, cá đực sẽ mải lo giữ thứ bậc của mình trong đàn. Nhờ vậy, các hành vi hung hăng thường không đi quá xa.1

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá đực trưởng thành lên màu đậm hơn cá cái. Khi vào độ sinh sản, trên đầu cá đực mọc các nốt sần (tubercle) nhìn thấy rõ.

Cá cái trưởng thành thường lớn hơn một chút, thân đầy đặn hơn và nhạt màu hơn.

Tùy quần thể, cả cá đực lẫn cá cái đều có thể mọc tia vây lưng kéo dài thành sợi. Các sợi này có thể rụng đi hoặc tiêu biến vào một số thời điểm trong năm.1

Sinh sản ra sao?

Giống phần lớn các loài cá chép nhỏ, loài này đẻ trứng rải tự do và không chăm con.

Cá khỏe thì đẻ thường xuyên. Trong bể đã ổn định lâu, có thể sẽ tự xuất hiện vài con cá bột mà bạn không cần làm gì. Nhưng muốn thu được nhiều cá con thì phải làm bài bản hơn.

Bạn vẫn có thể vỗ cả đàn cá bố mẹ chung một bể. Tuy vậy, nên set một bể đẻ riêng và đổ đầy nước đã ổn định.

Bể đẻ nên để rất tối. Đáy bể phủ một lớp lưới có mắt đủ lớn để trứng lọt qua, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới trứng. Thảm cỏ nhựa loại bán phổ biến cũng dùng được và cho kết quả tốt. Một lớp bi thủy tinh cũng vậy.

Một cách khác là trồng kín phần lớn bể bằng cây lá nhỏ như các loài Taxiphyllum, hoặc thả búi sợi cho cá đẻ (spawning mop). Cách này cũng cho kết quả khá.

Nước nên có pH từ hơi axit đến trung tính, nhiệt độ ở mức cao trong khoảng đã nêu ở trên. Bể cũng nên có lọc vi sinh (sponge filter) chạy bằng sủi khí, hoặc một vài cục sủi, để cấp oxy và tạo dòng chảy.

Khi cá bố mẹ đã được vỗ tốt và cá cái trông căng trứng, bạn thả một hoặc hai cặp vào bể đẻ. Thường thì cá sẽ đẻ vào sáng hôm sau.

Bạn cũng có thể cho cá đẻ theo nhóm, mỗi giới khoảng sáu con là vừa. Khi đó có thể cần bể lớn hơn.

Dù làm cách nào, cá bố mẹ nhiều khả năng sẽ ăn trứng nếu có dịp. Vì vậy nên vớt chúng ra ngay khi thấy trứng.

Trứng nở sau 24 - 48 giờ. Khoảng 24 giờ sau đó, cá bột bắt đầu bơi tự do.

Vài ngày đầu, cá bột cần thức ăn cỡ hiển vi. Khi đủ lớn, chúng mới ăn được giun siêu nhỏ (microworm), ấu trùng Artemia mới nở hoặc các loại thức ăn tương tự.1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này đặc hữu ở hai bang Karnataka và Kerala, tây nam Ấn Độ. Những năm gần đây, người ta đã thu được mẫu ở các lưu vực sông Netravati, Chalakudy và Kallada, nhưng phạm vi phân bố chính xác của nó vẫn chưa rõ.

Trong bản mô tả gốc, nơi thu mẫu chuẩn chỉ được ghi là 'một con sông ở Canara'. Canara là một vùng của Karnataka gồm nhiều huyện, và vị trí này khớp với lưu vực Netravati.

Tuy vậy, sông Chalakudy và Kallada nằm xa hơn vài trăm km về phía nam. Giữa hai con sông này và Netravati còn có đèo Palghat (Palghat Gap) ngăn cách.

Pethiyagoda và Kottelat (2005a) đã chỉ ra điểm này. Hai ông cũng thấy hoa văn màu của cá có một số khác biệt, rõ nhất là ở quần thể Kallada. Ở đây, các dải đen ngang trên thùy vây đuôi từ mờ đến không có (xem phần 'Ghi chú').

Ngoài ra, Pethiyagoda và Kottelat (2005a) còn tạm xếp Puntius lepidus (Jerdon 1849) làm tên đồng nghĩa của D. assimilis. Mẫu syntype của P. lepidus được thu ở hệ thống sông Bhavani, bang Tamil Nadu. Hai ông dựa vào hình dạng miệng và mõm, vị trí vệt sẫm ở cuống đuôi và hoa văn vây đuôi của mẫu này để xếp như vậy.

Cá ở Bhavani có thể là một loài riêng, cũng có thể không. Vấn đề này hiện đang được nghiên cứu (J. D. Marcus Knight, trao đổi cá nhân).1

Môi trường tự nhiên

Loài này sống ở nhiều kiểu môi trường khác nhau, tùy từng nơi và có lẽ tùy cả mùa trong năm.

Ở sông Netravati, cá được ghi nhận ở vùng ven bờ, nơi nước chảy lờ đờ và nền là bùn. Còn ở Chalakudy, mẫu được thu ở những đoạn sông nước trong, nhiều đá và có dòng chảy. Các đoạn này nằm giữa vô số thác nước hình thành khi sông đổ xuống từ dãy núi Western Ghats.

Ở sông Kallada, cá sống cùng chỗ với D. exclamatio. Nước ở đây trong, nông (sâu dưới 50 cm) và chảy chậm. Cá được tìm thấy giữa các tảng đá granit (Pethiyagoda và Kottelat, 2005a).

Các loài khác sống trong cùng khu vực gồm Pethia conchonius, Puntius denisonii, Haludaria fasciata, Dawkinsia arulius, D. filamentosa, D. rubrotincta, Opsarius bakeri, O. bendelisis, O. canarensis, Devario malabaricus, Esomus danricus, Garra mcclellandi, G. hughi, Bhavania australis, Travancoria jonesi, Mesonoemacheilus guentheri, M. triangularis, Schistura denisoni, Lepidocephalichthys thermalis, Batasio travancoria, Mystus armatus, M. canarensis, Glyptothorax annandalei, Aplocheilus lineatus, Parambassis thomassi, Etroplus canarensis, Pseudetroplus maculatus, Sicyopterus griseus, Pseudosphromenus dayi, Channa striata và Carinotetraodon travancoricus.1

Ghi chú

D. assimilis trước đây thuộc chi Puntius, nằm trong 'nhóm' Puntius filamentosus gồm các loài có họ hàng gần với nhau. Nhóm này còn có P. arulius, P. assimilis, P. exclamatio, P. filamentosus, P. rohani, P. rubrotinctus, P. singhala, P. srilankensis và P. tambraparniei. Pethiyagoda và cộng sự (2012) đã chuyển toàn bộ các loài này sang chi mới Dawkinsia.

Các loài Dawkinsia được nhận diện qua tổ hợp đặc điểm sau: kích thước trưởng thành thường 80 – 120 mm SL, không có râu mõm, râu hàm trên có hoặc không, tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng trơn nhẵn, vây lưng có 4 tia không phân nhánh và 8 tia phân nhánh, vây hậu môn có 3 tia không phân nhánh và 5 tia phân nhánh, đường bên hoàn chỉnh với 18-22 vảy trên thân, lược mang đơn giản và nhọn (không phân nhánh, không dạng phiến), không có tia gai chĩa về phía trước nằm trước vây lưng, có xương uroneural rời, có 4-5 xương supraneural, có 15 đốt sống trước đuôi và 14-17 đốt sống đuôi, không có thóp sau mỏm thượng (post-epiphysial fontanelle), xương dưới ổ mắt thứ ba thon mảnh và không chồng lên xương nắp mang trước, cá con (dưới 50 mm SL) có ba vạch đen trên thân và một số loài vẫn giữ hoa văn này khi trưởng thành, cá trưởng thành có một đốm đen kéo dài theo chiều ngang ở cuống đuôi.

D. assimilis khác mọi loài Dawkinsia còn lại ở tổ hợp đặc điểm sau: chóp thùy vây đuôi có dải đen ngang rộng xấp xỉ đường kính mắt (mờ hoặc không có ở quần thể sông Kallada), môi dưới liền, có đốm sẫm ở cuống đuôi dài khoảng 2-5 vảy thân và không kéo tới gốc vây hậu môn, phần thân phía trước gốc vây hậu môn không có hoa văn nổi bật, miệng hướng xuống dưới (inferior), râu hàm trên dài bằng 23,5 - 33,3 % HL.

Ở một số cá thể trưởng thành thuộc quần thể sông Chalakudy và Kallada, các tia phân nhánh của vây lưng còn kéo dài thành sợi như sợi chỉ.

Trong nhóm, hai loài trông giống D. assimilis nhất là D. filamentosa và D. rohani. D. filamentosa dễ nhận ra vì có miệng gần mút (subterminal), trong khi D. assimilis có miệng hướng xuống dưới. Râu hàm trên của D. filamentosa cũng ngắn hơn (0,5 - 2,2% SL, so với 5,5 - 9,3 %). Còn ở D. rohani, thùy vây đuôi không có dải đen ngang.

D. assimilis trước đây từng bị nhận nhầm là Puntius mahecola (Valenciennes, 1844). Pethiyagoda và Kottelat (2005a, 2005b) đã làm rõ danh tính của cả hai loài.

Hai ông kiểm tra các mẫu syntype của P. mahecola và kết luận rằng đây là loài hợp lệ, nhưng không có họ hàng gần với loài Dawkinsia nào (lúc đó còn là nhóm P. filamentosus). P. mahecola thực ra là một loài cá nhỏ hơn, màu bạc, chỉ có một đốm sẫm ở cuống đuôi. Đốm này nằm hẳn phía sau vây hậu môn.

P. mahecola phân bố rộng ở bang Kerala, miền nam Ấn Độ. Một số tài liệu cũ từng in ảnh loài này dưới tên Puntius amphibius (Valenciennes, 1842).

Trước đó, P. mahecola từng bị coi là tên đồng nghĩa của D. filamentosa. Năm 1996, một loài cá trông giống D. filamentosa được thu ở sông Chalakudy và xuất khẩu cho giới chơi cá cảnh với tên 'P. mahecola'.

Đến nay, một số loài Dawkinsia, trong đó có D. assimilis, vẫn có tên 'mahecola barb' trong danh sách hàng của các nơi bán cá. Một dạng màu rất đẹp có thêm các vệt đỏ thì được bán với tên D. assimilis 'red', 'super red' hoặc 'neon red'.

Kottelat và Pethiyagoda (2005a) cho rằng một số quần thể D. assimilis có thể là loài riêng. Tuy vậy, hai ông chưa thể kết luận dứt khoát vì thiếu mẫu cá trưởng thành, nhất là mẫu từ Karnataka.

Quan hệ chính xác giữa các loài trong chi vẫn còn vài điểm chưa ngã ngũ. Knight và cộng sự (2011) cho rằng các loài trong chi có thể lai tự nhiên với nhau ở một số nơi.

Ví dụ, ở sông Kallada tại Thenmalai có một loài cá giống D. arulius (có thể là D. rubrotincta) sống chung với D. assimilis. Thenmalai cũng chính là nơi thu mẫu chuẩn của D. exclamatio.

D. exclamatio là loài hơi khác thường. Ngoài D. rubrotincta, nó là loài Dawkinsia duy nhất có đốm giữa thân hình (gần như) chữ W. Dù vậy, nó vẫn có đốm kéo dài theo chiều ngang ở cuống đuôi giống các loài khác trong chi.

Theo đúng đặc điểm loài, D. exclamatio phải có miệng gần mút (sub-terminal) và không có sợi ở vây lưng. Thế nhưng một số mẫu lại có miệng ở mút (terminal) và/hoặc có sợi vây lưng. Một mẫu còn có chóp vây đuôi màu đen như thường thấy ở D. filamentosa, trong khi bản mô tả ghi rằng chóp vây chỉ hơi sẫm và không có hoa văn đặc trưng.

Ở sông Thamirabarani, bang Tamil Nadu, nơi D. filamentosa và D. tambraparniei sống chung, người ta cũng thu được những dạng cá có vẻ là trung gian giữa hai loài.

Vì chưa xét nghiệm DNA nên chưa có kết luận nào. Dù vậy, trước đó đã có người phỏng đoán D. filamentosa và D. arulius lai với nhau ở con sông này. Hiện tượng lai cũng được biết là xảy ra ở họ Cyprinidae nhiều hơn bất kỳ nhóm cá nào khác. Vì thế, các nghiên cứu sau này có thể sẽ cho kết quả thú vị.

Suốt nhiều năm, chi Puntius bị xem là một chi đa ngành (polyphyletic), kiểu chỗ gom chung của hơn 100 loài cá chép cỡ nhỏ đến trung bình. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Pethiyagoda và cộng sự (2012) công bố một bản rà soát một phần, bao gồm các loài ở Nam Á.

Phần lớn các loài Puntius ở vùng cận Himalaya được phân loại lại. Ba chi mới là Dawkinsia, Dravidia và Pethia được lập ra để chứa một số loài trong đó. Số còn lại hoặc vẫn ở Puntius, hoặc chuyển sang nhóm Systomus vốn đã có. Tuy nhiên, định nghĩa của Systomus cũng thay đổi, nên một số loài Đông Nam Á trước đây xếp vào đó nay không còn thuộc nhóm này.

Sau đó, người ta phát hiện tên Dravidia đã được dùng cho một chi ruồi thịt. Vì vậy, Pethiyagoda (2013) đưa ra tên thay thế là Haludaria.

Nghiên cứu này không xét loài nào từ Đông Dương, Trung Quốc hay Indonesia. Do đó, khá nhiều loài từng thuộc Puntius hiện bị xếp là incertae sedis, tức chưa rõ vị trí phân loại. Một số loài Nam Á có tình trạng chưa được giải quyết cũng rơi vào trường hợp này.

Trước mắt, có lẽ cách gọi hợp lý nhất cho các loài này là 'Puntius', với tên chi đặt trong dấu nháy để cho thấy cách dùng này còn đáng ngờ. Đây là quy ước đang được áp dụng hiện nay.

Phần thông tin này có sự góp ý của J. D. Marcus Knight.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Pethiyagoda, R. and M. Kottelat (2005). A review of the barb of the Puntius filamentosus group (Teleostei: Cyprinidae) of southern India and Sri Lanka. Raffles Bulletin of Zoology Supplement 12, 127-144
  • Rema Devi, K., T. J. Indra, and J. D. Marcus Knight (2010). Puntius rohani (Teleostei: Cyprinidae), a new species of barb in the Puntius filamentosus group from the southern Western Ghats of India. Journal of Threatened Taxa 2(9), 1121-1129
  • Marcus Knight, J. D., K. Rema Devi, and V. Atkore (2011). Systematic status of Systomus rubrotinctus Jerdon (Teleostei: Cyprinidae) with notes on the Puntius arulius group of fishes. Journal of Threatened Taxa 3(4), 1686-1693
  • Kottelat, M. and H-H Tan (2011). Systomus xouthos, a new cyprinid fish from Borneo, and revalidation of Puntius pulcher (Teleostei: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 22(3), 209-214
  • Pethiyagoda, R. and M. Kottelat (2005). The identity of the south Indian barb Puntius mahecola (Teleostei: Cyprinidae). Raffles Bulletin of Zoology Supplement 12, 145-152
  • Raju Thomas, K., M. J. George, and C. R. Biju (2002). Freshwater fishes of southern Kerala with notes on the distribution of endemic and endangered species. Journal of the Bombay Natural History Society 99(1), 47-53
  • Raju Thomas, K., C. R. Biju, C. R. Ajithkumar and M. J. George (2000). Fish fauna of Idukki and Neyyar wildlife sanctuaries southern Kerala, India. Journal of the Bombay Natural History Society 97(3), 443-446
  • Kurian Abraham, R., N. Kelkar and A. Biju Kumar (2011). Freshwater fish fauna of the Ashambu Hills landscape, southern Western Ghats, India, with notes on some range extensions. Journal of Threatened Taxa 3(3), 1585-1593
  • Pethiyagoda, R., M. Meegaskumbura, and K. Maduwage (2012). A synopsis of the South Asian fishes referred to Puntius (Pisces: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(1), 69-95
  • Pethiyagoda, R. (2013). Haludaria, a replacement generic name for Dravidia (Teleostei: Cyprinidae). Zootaxa 3646(2), 1991

Chuẩn bị để nuôi Cá barb mascara

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.