Đơn vị
Giao diện

Nemacheilidae, Ấn Độ

Cá chạch sóc đuôi đỏ

Aborichthys elongatus

Tên khác: Cá chạch cát sọc đuôi đỏ, Red-Tailed Squirrel Loach, Red tailed striped sand loach

Nhiệt độ
15–21°C
pH
6,5–7,5
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khó
Vừa

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
15–21°C
pH
6,5–7,5
Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianDễbể từ 60 cm, cá dài 7,5 cm
  • NướcDễpH 6,5–7,5, 5–12 dGH
  • Nhiệt độKhónước mát · 15–21°C
  • Tính cáchVừahơi dữ, hay cắn vây
  • Bầy đànVừađàn từ 6 con

Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-28.

Thông tin nhanh

Chạch sóc đuôi đỏ (Aborichthys elongatus) là một loài chạch họ Nemacheilidae, sống ở quận Darjeeling, bang Tây Bengal, vùng đông bắc Ấn Độ. Chúng ở giữa đá và sỏi cuội trong những con suối nông, nước chảy xiết. Các con suối này chảy xuống từ vùng đồi Sivalik rồi đổ vào lưu vực sông Teesta và Brahmaputra. Loài này khá hiếm trên thị trường. Phần lớn cá bán dưới cái tên này được bắt ở vùng thấp hơn thuộc quận Jalpaiguri, và nhiều khả năng là những loài khác.

  • Cần dòng chảy mạnh, lọc phải đẩy được lượng nước gấp 8–12 lần thể tích bể mỗi giờ
  • Sinh sản: Chưa có ghi nhận nào về việc loài này sinh sản trong bể nuôi.1

Cần bể bao lớn?

Nuôi một đàn thì cần bể có đáy rộng từ 60 × 30 cm trở lên. Thể tích khoảng 54 lít.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: loài này ưa nước mát hơn nhiều loài chạch nemacheilid khác, khoảng 15–21°C là lý tưởng.
  • pH: mức thường được khuyên là 6,5–7,5, dù ngoài tự nhiên từng có nơi đo được pH lên tới 8,2.
  • Độ cứng: 5–12 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Loài này không khó nuôi nếu điều kiện bể phù hợp. Cách tốt nhất là set bể mô phỏng một con suối hay dòng sông đang chảy. Nền nên gồm đá nhiều cỡ, cát, sỏi mịn và vài tảng đá lớn đã bị nước mài tròn.

Bạn có thể bày thêm cành lũa, xếp sao cho tạo ra nhiều hốc, kẽ và chỗ râm. Loài cá tò mò này sẽ thích đi lục lọi khắp những chỗ đó. Cá Aborichthys hay đào bới, vì thế nên đặt đá và lũa thẳng xuống đáy kính trước rồi mới đổ nền.

Giống nhiều loài cá sống ở nước chảy ngoài tự nhiên, chúng không chịu được chất bẩn hữu cơ tích tụ trong bể. Nước phải thật sạch thì cá mới khỏe. Cá cũng sống tốt nhất khi nước giàu oxy hòa tan và dòng chảy trong bể đủ mạnh. Vì vậy bạn nên lắp một lọc ngoài công suất lớn, hoặc thêm một hai máy tạo dòng (powerhead).

Phần lớn cây thủy sinh sẽ không sống nổi trong bể kiểu này. Những loại khỏe như dương xỉ Java, Bolbitis hay các loài Anubias thì vẫn trồng được bằng cách buộc lên đá, lũa.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, thức ăn chính của chúng có lẽ là ấu trùng côn trùng, giun, giáp xác và các loại động vật phù du khác. Trong bể, cá chịu ăn thức ăn khô. Dù vậy, bạn vẫn nên cho ăn đều đặn thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như bo bo (Daphnia), Artemia, trùng huyết (bloodworm) và những loại tương tự.

Giống nhiều loài chạch nemacheilid, chúng ăn rất hăng và có vị giác cực nhạy. Mỗi lần thả thức ăn vào, cả bể thường nhốn nháo hẳn lên. Cảnh đó có thể làm những loài cá bơi chậm hơn bị stress.1

Aborichthys elongatus.
©

Nuôi chung với con gì?

Loài này không hung dữ lắm. Tuy vậy, chúng đòi hỏi điều kiện nuôi khá riêng nên phần lớn không hợp với bể cộng đồng "thông thường". Những loài bơi chậm hoặc vây dài thì chắc chắn không nên nuôi chung. Chúng nhiều khả năng sẽ chật vật với dòng chảy mạnh mà bể này cần, có thể bị cắn vây hoặc bị giành hết thức ăn.

Các loài tầng đáy hiền lành như Corydoras hay Pangio cũng nên tránh. Hợp hơn là nhiều loài thuộc các giống Danio, Devario, Rasbora và Garra. Cá bống thuộc các giống như Rhinogobius, Sicyopterus, Stiphodon, hay cá da trơn như các loài Glyptothorax, Akysis và Oreoglanis cũng nuôi chung được.

Nhiều loài chạch họ Nemacheilidae và hầu hết chạch họ Balitoridae cũng hợp. Có điều, chúng có thể gây gổ với nhau, nhất là với nhóm Nemacheilidae. Để chắc ăn, bạn nên tìm hiểu kỹ từng loài định mua trước khi mua.

Với đồng loại, có lẽ nói chúng "sống thành đàn lỏng lẻo" là chính xác nhất. Vì thế tốt nhất nên nuôi từ sáu con trở lên. Nuôi đàn như vậy bạn sẽ được xem nhiều màn qua lại khá vui mắt. Cá vẫn hay gây gổ với nhau, nhưng trong một bể bày trí hợp lý thì chuyện này không đáng lo.1

Nuôi chung

Tính cách
Hơi dữ
Đàn tối thiểu
6 con

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Phân biệt đực cái thế nào?

Con cái trưởng thành thường có thân đầy đặn hơn hẳn con đực, còn hoa văn cơ bản thì giống nhau. Có một loại cá mang thêm các vạch ngang trên thân và những đốm sẫm như vết loang ở vây đuôi, đôi khi bị nhận nhầm là A. elongatus cái. Thực ra con cá đó có vẻ là một loài chưa được mô tả.1

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Ấn Độ1

Sông, hồ, vùng: Brahmaputra, Teesta, Sivalik Hills1

Nguồn ghi gì
  • Ấn Độ · Seriously Fish1: “The red-tailed squirrel loach, Aborichthys elongatus, is a nemacheilid loach from Darjeeling District, West Bengal, in north-east India.”
  • Brahmaputra, Teesta · Seriously Fish1: “These are all tributaries of the Teesta River and thus part of the Brahmaputra River drainage.”
  • Sivalik Hills · Seriously Fish1: “Andrew Arunava Rao of Malabar Tropicals told us it can be collected only in Darjeeling District, West Bengal State, north-east India from streams and small rivers running down from the Sivalik Hills including the Relli, Chel and Ghish.”

GBIF có 6 ghi nhận ngoài tự nhiên, tất cả trong các nước trên.

  • Ghi nhận trong các nước bản địa
  • Nước bản địa
  • Mỗi ô khoảng 160 km.

Dữ liệu: GBIF.org, 6 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-05 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Theo Andrew Arunava Rao của Malabar Tropicals, loài này chỉ bắt được ở quận Darjeeling, bang Tây Bengal, vùng đông bắc Ấn Độ. Chúng sống trong các suối và sông nhỏ chảy xuống từ đồi Sivalik, trong đó có sông Relli, Chel và Ghish. Cả ba đều là phụ lưu của sông Teesta, tức là thuộc lưu vực sông Brahmaputra.

Bộ mẫu chuẩn được thu từ "sông Riang ở độ cao 610 m tại quận Darjiling" (Hora, 1921). Tuy vậy, trên bản đồ hiện nay không tìm thấy con sông nào mang tên này. Vì vùng nước nơi chúng sống rất hẻo lánh nên loài này khá hiếm trên thị trường. Phần lớn cá bán dưới cái tên này được bắt ở vùng thấp hơn, và nhiều khả năng là những loài khác (xem phần 'Ghi chú').1

Môi trường tự nhiên

Loài này chủ yếu sống ở những đoạn suối và sông nhỏ nông, nước chảy xiết, lòng suối thường dốc thấy rõ. Đáy thường là đá và sỏi cuội, xen giữa là sỏi nhỏ hoặc cát. Cá sống trong hệ thống hốc và hang do đá cuội xếp chồng tạo thành.

Ở đây gần như không có cây thủy sinh. Dù vậy, các bề mặt dưới nước có thể phủ một lớp màng sinh học dày, gồm tảo, tảo cát và nhiều vi sinh vật khác. Những loài từng được bắt cùng chỗ với chúng gồm Pseudecheneis sulcata, Nemacheilus devdevi, N. inglisi và Schistura scaturigina.1

Ghi chú

Trong các tài liệu cũ, loài này có thể được xếp vào giống Nemacheilus hoặc dưới tên trần (nomen nudum) Noemacheilus. Đôi khi cá được bán với tên 'red tailed, striped sand loach' hoặc 'red tailed squirrel loach'.

Đến nay đã có năm loài Aborichthys được mô tả, nhưng chắc chắn còn nhiều loài nữa. Có vài loại cá trông khá giống được bán dưới tên A. elongatus, nhưng thực ra được bắt ở vùng thấp hơn thuộc quận Jalpaiguri, Tây Bengal.

Jalpaiguri giáp Darjeeling, nên về địa lý thì khá gần nơi có A. elongatus thật. Tuy vậy, sông suối ở vùng này chảy ra từ Bhutan chứ không phải từ đồi Sivalik. Vì thế những con cá này về sau có thể được xác định là loài mới.

Theo Kottelat (1990), giống này có các đặc điểm sau: "thân thon dài, chiều cao thân đều nhau từ gáy đến gốc vây đuôi, hậu môn nằm ngay sau đai chậu, tia vây ngực không kéo dài và không chạm tới nửa quãng đến gốc vây bụng, điểm bắt đầu của vây bụng nằm trước vây lưng, vây đuôi tròn, vây lưng có 7½ tia phân nhánh, hoa văn gồm các sọc hẹp chạy xiên xuống dưới và ra sau, một đốm đen ở mép trên gốc vây đuôi, đuôi có các vòng đồng tâm".

Họ Nemacheilidae phân bố rộng khắp phần lớn lục địa Á - Âu. Tiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc là những nơi đặc biệt đa dạng loài. Họ này lần đầu được đề xuất thành một nhóm riêng về di truyền vào năm 2006. Theo quan điểm hiện nay, họ gồm hơn 30 giống. Trong giới cá cảnh, những giống quen thuộc nhất là Aborichthys, Acanthocobitis, Barbatula, Mesonoemacheilus, Nemacheilus, Physoschistura, Schistura và Yunnanilus.

Trước đây, các giống này được xếp vào họ Balitoridae, phân họ Nemacheilinae. Tuy nhiên, các nghiên cứu phát sinh loài cho thấy chạch Balitoridae và chạch Nemacheilidae tuy có họ hàng gần nhưng không tiến hóa từ cùng một tổ tiên chung. Chúng là hai dòng di truyền riêng biệt. Họ Balitoridae sau khi sắp xếp lại gồm hơn 30 giống. Trong đó có một số giống được dân chơi ưa chuộng như Annamia, Beaufortia, Gastromyzon, Homaloptera, Liniparhomaloptera, Pseudogastromyzon, Sewellia, Sinogastromyzon và Vanmanenia.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Hora, S. L. (1921). On some new or rare species of fish from the eastern Himalayas. Records of the Indian Museum (Calcutta) v. 22 (pt 5, no. 33), 731-744
  • Kottelat, M. (1990). Indochinese nemacheilines. A revision of nemacheiline loaches (Pisces: Cypriniformes) of Thailand, Burma, Laos, Cambodia and southern Viet Nam. Verlag Dr. Friedrich Pfeil, München, Germany, 1-262
  • Šlechtová, V., J. Bohlen and H. H. Tan (2007). Families of Cobitoidea (Teleostei; Cypriniformes) as revealed from nuclear genetic data and the position of the mysterious genera Barbucca, Psilorhynchus, Serpenticobitis and Vaillantella. Molecular Phylogenetics and Evolution 44(3), 1358-1365
  • Tang, Q., H. Liu, R. Mayden and B. Xiong (2006). Comparison of evolutionary rates in the mitochondrial DNA cytochrome b gene and control region and their implications for phylogeny of the Cobitoidea (Teleostei: Cypriniformes). Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 347-357
  • Kottelat, M. (2012). Conspectus cobitidum: an inventory of the loaches of the world (Teleostei: Cypriniformes: Cobitoidei). Raffles Bulletin of Zoology Supplement 26, 1-1991

Chuẩn bị để nuôi Cá chạch sóc đuôi đỏ

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này