Cyprinidae, Ấn Độ
Cá danio Meghalaya
Danio meghalayensis
- Nhiệt độ
- 16–21°C
- pH
- 6,5–7,5
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
- Vừa
Bảng dữ liệu
Xem đủ bảng
- Nhiệt độ
- 16–21°C
- pH
- 6,5–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 2–15
- Kích thước
- 8 cm
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?
Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:
- Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 8 cm
- NướcDễpH 6,5–7,5, 2–15 dGH
- Nhiệt độKhónước mát · 16–21°C
Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
- Seriously Fish
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-06.
Có nên mua không?
- Loài này có tiếng hay nhảy, nên bể bắt buộc phải có nắp đậy thật kín. Cá trong chi này nhảy rất giỏi và lọt được qua những khe hở nhỏ đến bất ngờ.
Phần lớn bang Meghalaya là đồi rừng. Vùng này mưa rất nhiều và có nhiều dòng nước chảy xiết.
Loài này thường sống ở các con suối trên vùng cao (trên 1000 m so với mực nước biển). Suối chảy qua nền đá lổn nhổn đá tảng và có rất ít cây thủy sinh. Ở một số nơi, dòng nước chảy chậm hơn và cây cối ven bờ che bóng xuống mặt nước.1
Cần bể bao lớn?
Chiều dài chuẩn (SL): 80 mm.
Đáy bể: 120 × 45 cm.
Thể tích: khoảng 243 lít.
Dù chỉ nuôi một nhóm nhỏ, bạn cũng cần bể có đáy từ 120 × 45 cm trở lên.1
Nước cần thế nào?
Về nhiệt độ, không khí ở Meghalaya lạnh dưới 0°C vào mùa đông và lên khoảng 28°C vào mùa hè. Vì vậy tốt nhất là nuôi loài này trong bể không cắm sưởi. Nếu nước cứ ở trên 25°C trong thời gian dài, cá thường sống chật vật. Trong bể nuôi, khoảng 16–21°C nhiều khả năng là đủ, với điều kiện bạn tăng sục khí và cho ăn nhiều hơn vào những tháng nóng.1

Chăm sóc ra sao?
Cá đặc biệt nổi bật trong bể trồng dày cây với nền tối màu. Trong bể bày biện sơ sài, cá có thể nhạt màu hơn.
Bạn nên nuôi loài này trong bể nhiều cây, hoặc bể bày theo kiểu sông suối có dòng chảy. Nền nên là đá và sỏi đủ cỡ, thêm vài tảng đá lớn đã bị nước mài tròn.
Bạn có thể lắp thêm máy tạo dòng hoặc tận dụng đầu ra của lọc để tạo dòng chảy. Tuy vậy đừng để nước chảy cuồn cuộn như thác. Ngoài tự nhiên, các loài Danio nhỏ như loài này thường ở những đoạn nước êm hơn và vùng sát mép suối.
Bạn cũng có thể thêm rễ lũa, cành cây và cây thủy sinh. Các chi cây khỏe như Microsorum, Bolbitis hay Anubias là lựa chọn lý tưởng vì chúng sống tốt khi buộc lên lũa, đá.
Bể phải có nắp đậy thật kín. Cá trong chi này nhảy rất giỏi và lọt được qua những khe hở nhỏ đến bất ngờ.1
Cho ăn gì?
Ngoài tự nhiên, cá có lẽ ăn côn trùng và ấu trùng côn trùng. Trong bể, chúng gần như không kén ăn và nhận hầu hết các loại thức ăn.
Bạn có thể dùng một hai loại thức ăn khô chất lượng tốt làm thức ăn chính. Dù vậy, nên cho ăn thêm đều đặn các loại thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, bo bo, Artemia... Có vậy cá mới lên màu đẹp nhất và giữ được thể trạng tốt.1
Nuôi chung với con gì?
Đây không phải loài cá hung dữ. Có điều cá bơi lội không ngừng và tranh ăn rất hăng, nên dễ làm khổ những bạn cùng bể bơi quá chậm hoặc nhút nhát. Vì thế loài này chỉ hợp với bể lớn, nuôi chung với các loài cá khỏe có kích thước tương đương.
Có rất nhiều lựa chọn hợp, gồm nhiều loài thuộc họ cá chép (cyprinid), cá chạch, cá cichlid, cá da trơn và cá characin. Như mọi lần chọn cá cho bể cộng đồng, bạn vẫn phải tìm hiểu kỹ từng loài trước khi thả chung.
Nếu muốn làm bể cộng đồng toàn các loài ở Meghalaya, bạn có thể thả thêm Devario aequipinnatus, Barilius bendelisis, Acanthocobitis botia, Botia dario và Lepidocephalichthys guntea.
Đây là loài sống theo đàn, nên nuôi ít nhất 8–10 con. Nuôi đông thì cá bớt nhát hơn, và cả đàn bơi trông cũng đẹp, tự nhiên hơn hẳn.
Khi nuôi đàn, tính hung hăng thường cũng được tiết chế, vì mỗi con bận lo giữ thứ bậc của mình trong đàn. Con đực cũng sẽ lên màu đẹp nhất khi có đối thủ cùng loài ở gần.1
Nuôi chung
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Phân biệt đực cái thế nào?
Con đực trưởng thành có màu sắc rực hơn, thon hơn hẳn và nhỏ hơn con cái. Vây của con đực cũng có nhiều sắc đỏ hơn.1

Sinh sản ra sao?
Giống nhiều loài cá chép nhỏ khác, loài này đẻ trứng rải và không chăm con.
Cá khỏe mạnh thì sẽ đẻ thường xuyên. Trong bể trồng dày cây và đã chạy lâu năm, có thể tự nhiên lác đác vài con cá bột xuất hiện mà bạn không phải làm gì.
Tuy vậy, nhìn chung D. meghalayensis khó cho đẻ hơn các loài danio khác. Các cách cho đẻ thông thường thường không có kết quả.
Chẳng hạn, khi chỉ ghép một cặp, con cái to hơn thường rượt con đực liên tục. Trường hợp thành công duy nhất được biết đến là của Dennis Ball, một người chơi cá ở Mỹ. Đàn 8 con trưởng thành của ông đã đẻ trong một cơn giông, sau một thời gian được vỗ bằng thức ăn sống.
Trong bể có sẵn một bụi Taxiphyllum, nhưng cá lại chọn đẻ trong lớp sỏi thô. Con cái bơi trước, con đực theo sau.
Đẻ xong thì cá bố mẹ được vớt ra.
Khoảng 48 giờ sau khi đẻ, những con cá bột đầu tiên xuất hiện. Thêm 48 giờ nữa thì chúng bắt đầu bơi tự do.
Từ lúc đó, cá bột được cho ăn Artemia mới nở và thức ăn cá bột bán sẵn. Chúng lớn rất nhanh, đạt 12–15 mm chỉ trong 30 ngày.
Cảm ơn Dennis Ball.1
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Đến nay loài này mới chỉ được ghi nhận ở quận East Khasi Hills, bang Meghalaya, vùng đông bắc Ấn Độ.
Bộ mẫu chuẩn được thu gần hồ Umiam, còn có tên là Barapani.
Cả khu vực nằm ở độ cao khoảng 1200 m so với mực nước biển. Sườn phía nam của dãy đồi Khasi là nơi có lượng mưa hằng năm cao nhất thế giới.1
Ghi chú
Trong nhiều năm, loài này bị coi là một dạng của D. dangila. Đến năm 2004, Fang mới khôi phục nó thành một loài riêng.
Từ đó đến nay, loài này chỉ thỉnh thoảng mới có hàng trên thị trường và luôn được dân mê danio săn lùng.
Mấy năm gần đây, người ta quen gọi tên các sọc trên thân và vây của nhóm danionin theo cách sau:
- Sọc P, hay "sọc sắc tố", là sọc đậm chạy dọc giữa thân. Ở một số loài, sọc này kéo dài tới vây đuôi. Các sọc phía trên nó được đánh số P+1, P+2..., còn các sọc phía dưới là P-1, P-2, P-3.
- Sọc A là sọc nằm giữa vây hậu môn. Sọc phía gốc vây (bên trên) là A+1, sọc phía rìa vây (bên dưới) là A-1.
- Sọc D là sọc nằm sát dưới mép vây lưng.
Theo Fang (2003), đặc điểm nhận dạng của các loài Danio là có một sọc A trên vây hậu môn và từ hai sọc P trở lên trên vây đuôi. Ngoài ra còn có một số đặc điểm bên trong cơ thể, chẳng hạn các phiến mũi lớn.
Mấy năm gần đây, chi này đã bị xáo trộn phân loại khá nhiều sau khi hàng loạt nghiên cứu phát sinh loài được công bố.
Các cây phát sinh loài dựa trên dữ liệu phân tử trước đây thường thống nhất rằng chi này là một nhóm đơn ngành gồm hai nhánh lớn. Nhánh thứ nhất là nhóm 'Danio devario', gồm các loài to hơn và thân cao hơn. Nhánh thứ hai là nhóm 'D. rerio', gồm các loài nhỏ hơn và thon hơn.
Các loài thuộc nhóm thứ hai hay được gọi bằng tên 'Brachydanio'. Tên này nay đã bị bỏ, nhưng vẫn xuất hiện nhiều trong sách báo nuôi cá cũ.
Tuy nhiên, năm 2003 Fang Fang làm một nghiên cứu chi tiết hơn dựa trên đặc điểm hình thái, có xét cả các loài thuộc những chi họ hàng. Kết quả lần đầu tiên cho thấy chi Danio theo cách hiểu cũ là một nhóm đa ngành. Nói cách khác, không phải mọi loài trong đó đều bắt nguồn từ cùng một tổ tiên chung.
Tên chi Devario được đề xuất cho các loài lớn, còn tên Danio chỉ dành cho các loài nhỏ. Ngoại lệ là loài chuẩn D. dangila, có thể dài tới khoảng 89 mm SL.
Các nghiên cứu phân tử gần đây của Mayden và cs. (2007) và Fang và cs. (2009) lại dẫn tới thêm những thay đổi khác.
Đáng tiếc là các công trình này chỉ thống nhất ở vài điểm, còn lại thường mâu thuẫn nhau. Rõ nhất là ở cách dùng tên các phân họ Rasborinae (Weber và de Beaufort, 1916) và Danioninae (Bleeker, 1863), ở vị trí của D. kyathit so với D. rerio, và ở mức độ họ hàng giữa các loài Danio với Esomus.
Cả hai bộ kết quả đều xếp loài trước đây mang tên Microrasbora erythromicron vào trong Danio.
Hiện nay, cách phân loại theo kết quả của Fang và cs. (2009) được dùng. Theo đó, Danio gồm ba nhánh con, tức ba nhóm loài có quan hệ gần gũi với nhau.
Nhánh thứ nhất gồm D. erythromicron, D. margaritatus, D. choprae và D. flagrans.
Các loài này có hoa văn thân rất riêng. D. erythromicron, D. choprae và D. flagrans mang các vạch đứng, còn D. margaritatus mang các đốm sáng. Chúng có râu rất ngắn hoặc không có râu. Trong khi đó, mọi loài Danio khác đều có sọc ngang dọc thân và râu tương đối dài.
Có ý kiến cho rằng D. erythromicron và D. margaritatus sẽ còn bị chuyển chi lần nữa trong tương lai. Lý do là hai loài này có chung một số đặc điểm hình thái và tập tính, mà những đặc điểm đó dường như tách chúng khỏi các danio khác.
Nhánh thứ hai chứa loài chuẩn D. dangila. Loài này được tách riêng vì kích thước lớn hơn và vì hình dạng vây đuôi. Ở con trưởng thành, vây đuôi chỉ hơi lõm, thậm chí gần như cắt bằng. Trong các loài cá chép khác, chỉ có Tinca tinca (cá tench thường) có đặc điểm này.
Nhiều khả năng nhóm D. dangila còn gồm cả D. meghayalensis và D. feegradei.
Các loài còn lại thuộc nhánh con thứ ba, trong đó D. rerio được cho là loài cổ nhất. Có khả năng về sau ba nhóm này sẽ được tách thành ba chi khác nhau.1
Nguồn
1 nguồn và tài liệu tham khảo
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Tài liệu tham khảo
- Conway, K. W., W.-J. Chen and R. L. Mayden (2008). The 'Celestial Pearl danio' is a miniature Danio (s.s) (Ostariophysi: Cyprinidae): evidence from morphology and molecules. Zootaxa 1686, 1-28
- Engeszer, R. E., L. B. Patterson, A. A. Rao and D. M. Parichy (2007). Zebrafish in the wild: a review of natural history and new notes from the field. Zebrafish 4(1), 21-40
- Fang, F. (2003). Phylogenetic Analysis of the Asian Cyprinid Genus Danio (Teleostei, Cyprinidae). Copeia 2003(4), 714-728
- Fang, F., M. Norén, T. Y. Liao, M. Källersjö and S. O. Kullander (2009). Molecular phylogenetic interrelationships of the south Asian cyprinid genera Danio, Devario and Microrasbora (Teleostei, Cyprinidae, Danioninae). Zoologica Scripta 38(1), 1-20
- Kullander, S. O., T. Y. Liao and F. Fang (2009). Danio quagga, a new species of striped danio from western Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 20(3), 193-199
- Mayden, R. L., K. L. Tang, K. W. Conway, J. Freyhof, S. Chamberlain, M. Haskins, L. Schneider, M. Sudkamp, R. M. Wood, M. Agnew, A. Bufalino, Z. Sulaiman, M. Miya, K. Saitoh, S. He (2007). Phylogenetic relationships of Danio within the order Cypriniformes: a framework for comparative and evolutionary studies of a model species. Journal of Experimental Zoology, Molecular Development and Evolution 308B, 642-654
- Roberts, T. R. (2007). The 'Celestial Pearl Danio', a new genus and species of colourful minute cyprinid fish from Myanmar (Pisces: Cypriniformes). Raffles Bulletin of Zoology 55(1), 131-1401
Chuẩn bị để nuôi Cá danio Meghalaya
Bể cáTối thiểu 120 cm
Lọc, sủi khí và tạo dòng
Thức ăn
Nền và lá
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá danio Meghalaya? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.