Cobitidae, Trung Quốc
Cá chạch Kansu
Sinibotia robusta
Tên khác: Cá heo Sinibotia robusta, Kansu loach, Cá chạch vàng Trung Quốc, Cá chạch 12 vằn Trung Quốc, Golden Chinese loach, 12-banded Chinese loach
- Nhiệt độ
- 20–26°C
- pH
- 6,5–8
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
- Vừa
Bảng dữ liệu
Xem đủ bảng
- Nhiệt độ
- 20–26°C
- pH
- 6,5–8
- Độ cứng (dGH)
- 2–15
- Kích thướcCác nguồn ghi khác nhau
- 10 cm
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?
Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:
- Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 10 cm
- NướcDễpH 6,5–8, 2–15 dGH
- Nhiệt độDễ20–26°C
- Tính cáchDễhiền
- Bầy đànDễđàn từ 4 con
Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
Mỗi nguồn ghi một mức
- Aquarium Glaser: 18–24°C
- Seriously Fish: 20–26°C
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
Mỗi nguồn ghi một mức
- Aquarium Glaser: 18 cm
- Seriously Fish: 10 cm
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.
Thông tin nhanh
Aquarium Glaser ghi khác bảng dữ liệu: nhiệt độ 18–24°C (bảng: 20–26°C), kích thước 18 cm (bảng: 10 cm).
Sinibotia robusta còn được gọi là cá chạch Kansu. Loài này tương đối hiền, tốt nhất nên nuôi ở nhiệt độ phòng (18-24°C) mà không cần thêm sưởi. Kích thước tối đa được ghi nhận khoảng 18 cm, nhưng ngoài tự nhiên đa số cá chỉ dài 8-10 cm.1
Cá chạch Kansu (Sinibotia robusta) là một loài chạch họ Botiidae, sống trong hệ thống sông Châu Giang (Zhu Jiang) ở Quảng Tây, miền nam Trung Quốc. Thân nó cao và chắc nịch hơn, nên dễ phân biệt với các loài Sinibotia khác. Cùng với S. pulchra, đây là loài bán phổ biến nhất trong giống này, và hai loài hay được nhập lẫn trong cùng một lô. Cá con có khoảng 6 vạch sẫm màu, các vạch này thường tách đôi khi cá lớn lên.
- Độ khó: trung bình (6/8), vì cá cần bể đã chạy lâu và nước ổn định2
Có nên mua không?
- Bể cần nắp đậy kín vì loài này có tiếng hay nhảy.2
Cần bể bao lớn?
Chiều dài chuẩn (SL): 100 mm. Đáy bể: 120 × 30 cm. Thể tích: khoảng 108 lít.
Bạn nên dùng bể có đáy tối thiểu 120 × 30 cm hoặc kích thước tương đương.2
Nước cần thế nào?

Chăm sóc ra sao?
Loài chạch nào thuộc họ Botiidae cũng cần bể bày nhiều cấu trúc. Còn chọn đồ trang trí cụ thể ra sao thì phần lớn tùy sở thích mỗi người.
Nếu muốn bố cục kiểu tự nhiên, bạn có thể dùng nền cát hoặc sỏi mịn, thêm thật nhiều đá cuội và sỏi tròn nhẵn do nước mài, cùng lũa và cành cây.
Đèn có thể để khá dịu. Nếu thích, bạn có thể trồng thêm những cây sống được trong điều kiện đó như Microsorum, Taxiphyllum hoặc các loài Anubias. Những cây này còn có cái lợi là buộc được lên đồ trang trí, tạo thêm bóng râm cho cá.
Dù có trồng cây hay không, hãy bố trí thật nhiều chỗ nấp. Chạch Botiidae vốn tò mò và có vẻ rất thích lục lọi quanh bể. Đá, lũa, chậu hoa hay đồ trang trí bể cá đều dùng được, phối thế nào cũng được miễn ra hiệu quả bạn muốn.
Nhớ là loài cá này thích chui rúc vào khe hẹp. Vì vậy đừng bỏ vào bể vật gì có cạnh sắc. Khe hở hay lỗ nào nhỏ tới mức cá có thể bị kẹt thì nên trám lại bằng keo silicone loại dùng cho bể cá. Nắp đậy kín cũng là thứ bắt buộc, vì đôi khi cá có thể nhảy.
Các loài Sinibotia có vẻ thích nước chảy mạnh hơn phần lớn chạch Botiidae, và có thể nuôi trong bể lớn kiểu suối đồi. Tuy vậy, chỉ cần nước giàu oxy và có dòng chảy ở mức vừa phải là được, không nhất thiết phải tạo dòng thật xiết.
Điều cá không chịu được là chất thải hữu cơ tích tụ. Muốn cá khỏe thì nước phải thật sạch. Do đó tuyệt đối không thả chúng vào bể chưa ổn định vi sinh. Cá thích nghi dễ nhất trong bể đã chạy lâu và ổn định.
Về chăm sóc, thay 30–50% nước mỗi tuần nên là việc làm đều đặn.2
Cho ăn gì?
Ngoài tự nhiên, nhiều khả năng đây là loài săn mồi ở tầng đáy, ăn côn trùng, giáp xác và cá nhỏ.
Trong bể nuôi, cá không kén ăn. Dù vậy bạn nên cho ăn đa dạng: trùng huyết sống hoặc đông lạnh, trùng chỉ, thịt nghêu sò thái nhỏ, giun đất và thức ăn khô loại chìm chất lượng tốt.
Khi đã quen bể, cá có thể ăn khá hung hăng và thường bơi lên tận tầng giữa để giành mồi.2
Nuôi chung với con gì?
Loài này thường nhút nhát. Lúc không ăn, chúng hay ở những góc yên tĩnh của bể hoặc nấp trong chỗ trú. Tính cá rất hiền, nuôi chung được với nhiều loài khác, miễn là những loài đó hợp cùng điều kiện nước.
Bạn cùng bể đặc biệt hợp là các loài cá họ chép cỡ nhỏ bơi ở tầng giữa và tầng trên, như nhiều loài Devario, Rasbora, 'Puntius', Mystacoleucus và một số loài Danio. Nếu bể lớn hơn thì có thể chọn thêm Barilius, Luciosoma, Balantiocheilos và Barbonymus.
Về cá tầng đáy, loài này hẳn sẽ sống tốt cùng phần lớn các loài Botia và Sinibotia. Trong bể thật lớn thì có thể nuôi chung cả Chromobotia macracanthus.
Nhiều loài chạch họ Balitoridae, Cobitidae, Gastromyzontidae và Nemacheilidae cũng nuôi chung được. Các loài thuộc Epalzeorhynchos, Crossocheilus, Garra và nhiều loài cá da trơn cũng vậy.
Như mọi khi, tìm hiểu kỹ trước khi chọn cá cho bể cộng đồng vẫn là cách tốt nhất để tránh rắc rối.
Các loài Sinibotia sống theo đàn và có vẻ hình thành thứ bậc trong đàn khá phức tạp. Vì vậy nên mua ít nhất 3–4 con.
Nếu nuôi một con, đôi khi cá trở nên lầm lì hoặc hung dữ với những loài có dáng giống nó. Còn nếu chỉ mua hai hoặc ba con, con đầu đàn có thể bắt nạt những con còn lại đến mức chúng bỏ ăn.2
Nuôi chung
- Tính cách
- Hiền
- Đàn tối thiểu
- 4 con
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Phân biệt đực cái thế nào?
Chưa được xác nhận, nhưng khi đã trưởng thành, cá cái nhiều khả năng có thân đầy đặn hơn cá đực.2

Sinh sản ra sao?
Chưa có ghi nhận nào về việc loài này sinh sản trong bể. Ngoài tự nhiên, có lẽ chúng đẻ theo mùa, và có thể di cư khi sinh sản.2
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài này được mô tả từ mẫu thu ở 'Li Kiang, miền nam Trung Quốc'. Địa danh này có lẽ là nơi cùng tên gần thành phố Nam Ninh, Khu tự trị Quảng Tây.
Nam Ninh nằm ở chỗ hai hệ thống sông Hữu Giang (You) và Tả Giang (Zuo) gặp nhau. Hai sông hợp lại thành Ung Giang (Yong Jiang) khi chảy qua thành phố, rồi sau đó mang tên Ngọc Giang (Yu Jiang). Ngọc Giang về sau đổ vào Tây Giang (Xi Jiang), một nhánh lớn của sông Châu Giang (Zhu Jiang) nổi tiếng.
Người ta còn ghi nhận S. robusta ở vài lưu vực nhánh khác của hệ thống Châu Giang, trong đó có Liễu Giang (Liu Jiang) và Quế Giang (Gui Jiang). Lưu vực Châu Giang trùm lên phần lớn Quảng Tây và tỉnh Quảng Đông. Phần thượng nguồn của nó còn vươn sang một số vùng thuộc các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Giang Tây và cả miền bắc Việt Nam.
Đây là một trong những vùng đông dân và công nghiệp hóa mạnh nhất Trung Quốc. Vì thế phần lớn dòng chính Châu Giang giờ đã ô nhiễm nặng, nhất là ở hạ lưu.2
Môi trường tự nhiên
Thông tin về môi trường sống của loài này chưa nhiều. Có lẽ nó cũng giống các loài khác trong giống, sống ở những đoạn suối hoặc dòng sông chính nước trong, chảy vừa đến chậm, nền cát và đá.
Những loài thường sống cùng khu vực gồm Tor brevifilis, Onychostoma ovale, O. lini, O. gerlachi, Cirrhinus molitorella, Luciocyprinus langsoni, Saurogobio dabryi, Cobitis sinensis, Parabotia fasciatus, Sinibotia reevesae và Silurus asotus.2
Ghi chú
Hằng năm, tháng 6 là mùa nhập khẩu các loài cá chạch giống Botia từ Trung Quốc. Hiện nay giống Sinibotia gồm sáu loài. Giống Sinibotia khác với Botia ở chỗ có ba cặp râu (hai cặp râu hàm trên, một cặp râu hàm dưới), trong khi Botia có thêm cặp râu thứ tư ở môi dưới.1
Loài này còn được bán dưới các tên thông dụng 'cá chạch vàng Trung Quốc' (golden Chinese loach) và 'cá chạch 12 vằn Trung Quốc' (12-banded Chinese loach). Cùng với S. pulchra, đây là loài bán phổ biến nhất trong giống. Hai loài hay được nhập lẫn trong cùng một lô, có lẽ vì ngoài tự nhiên chúng sống chung một chỗ nên bị bắt cùng nhau.
Các loài khác cùng giống có thân mềm và uốn lượn. S. robusta thì ít có đặc điểm này hơn, vì thân nó nhìn chung cao và chắc nịch hơn.
Trước đây loài này được xếp vào giống Botia. Tài liệu sớm nhất tìm được có xếp nó vào Sinibotia là Nalbant (2002). Tuy nhiên, nghiên cứu đó không nêu lý do, nên có thể đề xuất chuyển giống đã có từ trước.
Chưa có thông tin chẩn đoán nào thật chắc chắn. Dù vậy, loài này vẫn dễ phân biệt với các loài Sinibotia khác nhờ thân tương đối cao và gọn hơn. Cá con thường có khoảng 6 vạch dọc sẫm màu trên thân, nhưng các vạch này thường tách đôi khi cá lớn.
Giống Sinibotia hiện có sáu loài. Tất cả đều là cá bản địa Trung Quốc, và ít nhất một loài còn có ở Lào. Trước đây cả sáu loài cũng đều được xếp vào Botia.
Từ đầu thế kỷ này đến nay không có nhiều công bố mới về giống này. Theo Yang và Chen (1992), có thể tách Sinibotia khỏi các giống gần nó nhờ tổ hợp đặc điểm sau: gai dưới mắt khỏe và chẻ đôi, đỉnh hộp sọ không có thóp, có ba cặp râu và một cặp 'nút' ở cằm (thùy cằm tròn ở môi dưới), vảy rất nhỏ, má không có vảy, vây lưng nằm gần gốc vây đuôi hơn là gần mõm, vây đuôi chẻ, phần trước bóng bơi thường nằm trong một nang hóa xương một phần đến hoàn toàn, còn phần sau bóng bơi thì không có nang bao.
Kể từ Nalbant (2002), họ Botiidae được rộng rãi coi là một nhóm riêng biệt về di truyền. Trước đó nó chỉ là một phân họ (Botiinae) của họ Cobitidae. Nalbant cũng dựa vào một số đặc điểm hình thái để chuyển vài loài vốn thuộc Botia sang giống mới Yasuhikotakia.
Sau đó Kottelat (2004) sửa đổi thêm hệ thống phân loại. Ông lập giống Chromobotia cho B. macracanthus và xác nhận rằng các loài trước đây xếp vào giống Hymenophysa phải chuyển sang Syncrossus.
Thay đổi thứ nhất dựa trên kiểu hoa văn màu sắc cùng một số đặc điểm hình thái. Thay đổi thứ hai là vì Hymenophysa vừa là tên viết sai chính tả (McClelland viết nguyên gốc là Hymenphysa), vừa là tên đồng nghĩa muộn của Botia.
Gần đây hơn, Kottelat (2012) lập giống Ambastaia cho A. nigrolineata và A. sidthimunki, hai loài từng lần lượt thuộc Botia rồi Yasuhikotakia.
Kết quả của các công trình này là họ Botiidae chia thành hai tông, trong đó Botia có vẻ là dòng cơ sở nhất:
Tông Leptobotiini - Leptobotia, Parabotia, Sinibotia. Tông Botiini - Ambastaia, Botia, Chromobotia, Syncrossus, Yasuhikotakia.
Các nghiên cứu phát sinh loài của Tang và cs. (2005) và Šlechtová và cs. (2006) phần lớn xác nhận hệ thống này đúng. Riêng nghiên cứu sau không đồng ý với vị trí của Sinibotia, vì kết quả cho thấy giống này gần với tông Botiini hơn.
Nghiên cứu đó cũng thấy Ambastaia nigrolineata và A. sidthimunki gần với cả Sinibotia lẫn Syncrossus hơn là với Yasuhikotakia, dù khi ấy hai loài này vẫn được xếp vào Yasuhikotakia. Šlechtová và cs. còn đề xuất dùng tên phân họ theo hệ thống sau:
Phân họ Leptobotiinae - Leptobotia, Parabotia. Phân họ Botiinae - Botia, Chromobotia, Sinibotia, Syncrossus, Yasuhikotakia.
Trong hệ thống này, Botia có vẻ là dòng cơ sở, tức dòng cổ nhất. Sau đó, trong một phân tích phát sinh loài chi tiết hơn, Šlechtová và cs. (2007) xác nhận họ Botiidae là hợp lệ, với các giống kể trên là thành viên trực tiếp chứ không chia thành phân họ. Sổ tay này theo hệ thống mới hơn và đơn giản hơn đó.
Các loài Sinibotia còn có gai dưới mắt sắc và cử động được. Bình thường gai nằm giấu trong một túi da, nhưng sẽ dựng lên khi cá hoảng, chẳng hạn lúc bị nhấc ra khỏi nước. Vì vậy cần cẩn thận khi bắt cá, vì gai có thể mắc vào vợt, còn gai của cá lớn có thể đâm rách da người.
Chạch họ Botiidae cũng dễ mắc chứng thường gọi là 'bệnh gầy' (skinny disease), biểu hiện là cá sụt cân. Bệnh đặc biệt hay gặp ở cá mới nhập, và người ta cho rằng thủ phạm là một loài trùng roi thuộc giống Spironucleus.
Bệnh này chữa được, nhưng thuốc hay dùng mỗi nước một khác. Người chơi ở Anh thường dùng kháng sinh Levamisole, còn ở Mỹ thì dùng Fenbendazole (tên khác là Panacur).2
Nguồn
2 nguồn và tài liệu tham khảo
- Aquarium Glaser aquariumglaser.de
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Tài liệu tham khảo
- Kottelat, M. (2001). Freshwater fishes of northern Vietnam. A preliminary check-list of the fishes known or expected to occur in northern Vietnam with comments on systematics and nomenclature. Environment and Social Development Unit, East Asia and Pacific Region. The World Bank, i-iii + 1-123 + 1-18
- Kottelat, M. (2004). Botia kubotai, a new species of loach (Teleostei: Cobitidae) from the Ataran River basin (Myanmar), with comments on botiine nomenclature and diagnosis of a new genus. Zootaxa 401, 1-18
- Nalbant, T. T. (2002). Sixty million years of evolution. Part one: family Botiidae (Pisces: Ostariophysi: Cobitoidea). Travaux du Museum d'Histoire Naturelle 'Grigore Antipa' 44, 309-333
- Nalbant, T. T. (2004). Hymenphysa, Hymenophysa, Syncrossus, Chromobotia and other problems in the systematics of Botiidae. A reply to Maurice Kottelat. Travaux du Museum d'Histoire Naturelle 'Grigore Antipa' 47, 269-277
- Šlechtová, V., J. Bohlen, J. Freyhof and P. Ráb (2006). Molecular phylogeny of the Southeast Asian freshwater fish family Botiidae (Teleostei: Cobitoidea) and the origin of polyploidy in their evolution. Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 529-541
- Šlechtová, V., J. Bohlen and H. H. Tan (2007). Families of Cobitoidea (Teleostei; Cypriniformes) as revealed from nuclear genetic data and the position of the mysterious genera Barbucca, Psilorhynchus, Serpenticobitis and Vaillantella. Molecular Phylogenetics and Evolution 44(3), 1358-1365
- Tang, Q., B. Xiong, X. Yang and H. Liu (2005). Phylogeny of the East Asian botiine loaches (Cypriniformes, Botiidae) inferred from mitochondrial cytochrome b gene sequences. Hydrobiologia 544(1), 249-258
- Tang, Q., H. Liu, R. Mayden and B. Xiong (2006). Comparison of evolutionary rates in the mitochondrial DNA cytochrome b gene and control region and their implications for phylogeny of the Cobitoidea (Teleostei: Cypriniformes). Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 347-357
- Yang, J.-X. and Y.-R. Chen (1992). Revision of the subgenus Botia (Sinibotia) with description of a new species (Cypriniformes: Cobitidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 2(4), 341-349
- Kottelat, M. (2012). Conspectus cobitidum: an inventory of the loaches of the world (Teleostei: Cypriniformes: Cobitoidei). Raffles Bulletin of Zoology Supplement 26, 1-1992
Chuẩn bị để nuôi Cá chạch Kansu
Bể cáTối thiểu 120 cm
Lọc, sủi khí và tạo dòng
Thức ăn
Nền và lá
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Bài viết nhắc đến loài này
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá chạch Kansu? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.